Thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 12 tháng giêng năm Nhâm Tuất (tứ ngày 22/2/1922) tại Bắc Giang, nhưng quê gốc của ông ở Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, quê hương nổi tiếng cuả Quan họ Kinh Bắc. Yêu thơ văn từ thuở học trò, lớn lên Hoàng Cầm không thích nghề giáo viên nên dấn thân vào con đường kịch nghệ và thi cạ

Từ trước 1945, Hoàng Cầm đã đóng góp không nhỏ cho kịch thơ Việt Nam với hai vỡ Hận Nam Quan và Kiều Loan. Diễn viên Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan, và mối tình thơ mộng đó đã cho ra tác phẩm bằng xương bằng thịt: Kiều Loan. Năm 1954, Tuyết Khanh và Kiều Loan di cư vào nam.

Người bạn đời thứ hai là Lê Hoàng Yến được nối kết sau vài năm xa cách Tuyết Khanh, sau khi thọ bản án Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Cầm về chung sống cùng người phối ngẫu, mở quán nước ở 43 Lý Quốc Sư, Hà nội, chung sống độ nhật qua ngàỵ

Thơ kháng chiến của ông có bài "Giữ lấy tuổi trẻ". Nhạc sĩ Hồ Bắc, người đã phổ nhạc bài thơ thật bất ngờ khi nghe nhà thơ Hoàng Hưng hát lại bài hát xưa đầy âm vang ngọt ngào và tình tứ hơn ba mươi năm sau trường ca "Tiếng hát quan họ" (1956) nhà thơ đã tạo ra sự đột khởi lạ lùng trong nghiệp thơ của ông bằng tập "Về Kinh Bắc" và nhiều tập thơ lẽ khác như "Men đá vàng", "Mưa Thuận Thành". Cho đến năm 75 tuổi, chọn lọc khoảng 300 bài thơ liên quan đến hình ảnh 13 người đẹp đi vào trái tim với "Thơ Hoàng Cầm - 99 tình khúc". Theo nhà thơ: "Tôi biết ơn tất cả những người con gái đã đi qua đời tôi, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca cuả riêng tôi". Ngay cả khi các tác phẩm này chưa được công bố, nhiều bài thơ đã thành "ngôn truyền" trong công chúng với những "Lá diêu bông", "Cây tam cúc", "Mưa Thuận Thành"...

Theo Hoàng Cầm tâm sự thì "Về kinh bắc chính là tập thơ cột sống" của đời ông. Nó là sự chưng cất, kết đọng tinh túy của văn hóa quan họ - kinh bắc, cũng là tinh túy của "văn hóa gốc Việt". Nhưng chính tập thơ này còn gắn liền với những thăng trầm trong đời thơ tác giả. Tập bản thảo cùng với những minh họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái và mẫu bìa của Văn Cao đã "lưu lạc" từ năm 1982 đến nay vẫn chưa tìm lại được. Tập thơ đã được in ra nhờ trí nhớ của tác giả và những người ái mộ thơ ông. Tiến sĩ ngữ văn Trần Ngọc Vương đã tiết lộ là anh vẫn còn giữ được một bản "Về kinh bắc" do chính tác giả chép tay hơn 20 năm trước mà có những chữ khác với những bản in. Câu chuyện "Về kinh bắc" bỗng trở nên cảm động hơn khi nghệ sĩ Lưu Nga đã trình bày một "chùm thơ" trong tập "Về kinh bắc" với một giọng ngâm vàng nhà văn hóa hữu ngọc 84 tuổi tặng nhà thơ Hoàng Cầm tập "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều vừa tái bản và tự hào rằng huyện Thuận Thành của ông đã đóng góp cho đất nước hai nhà thơ lớn là Nguyễn Gia Thiều và Hoàng Cầm. Nhiều văn nghệ sĩ, nhà khoa học và độc giả đã nói lên sự khâm phục và yêu thích thơ Hoàng Cầm cùng với sự kiện định đối với con đường thơ văn vì dân tộc của ông. Nhạc sĩ Phó Đức Phương cho biết anh đã học được văn hóa kinh bắc qua nhà thơ Hoàng Cầm và hát tặng ông bài hát "Tình Trương Chi" mới vừa sáng tác để sưng tụng tâm hồn luôn hướng tới cái đẹp của người nghệ sĩ.

Nhà thơ Hoàng Cầm cảm động nói: "Nếu không có bạn hữu, không có một công chúng trân trọng thơ ca như ở ta, chắc tôi đã chết lâu rồị Tôi còn sống, còn làm thơ, còn viết văn được là nhờ ơn của tất cả các bạn.


VÀI NÉT VỀ "LÁ DIÊU BÔNG"


Trước kia Hoàng Cầm gắn liền với hình ảnh Kiều Loan. Ngày nay bài thơ Lá Diêu Bông, rất ngắn nhưng làm sống lại tên tuổi Hoàng Cầm, ngay cả hải ngoạị

Lá Diêu Bông là lá tưởng tượng để bày tỏ ẩn tình bi thương, chất ngất. Ân tình đó được phổ biến qua tiếng hát với cung đàn. Làng Đình Bảng, Bắc Ninh tuy là miền quê nhưng cũng là "nơi đàn bà con gái đa tình, sóng sánh mắt lá răm" trông mòn con mắt. Trong bài thơ Lá Diêu Bông, mở đầu, Hoàng Cầm đã viết "Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" để phác hoạ hình ảnh điạ phương với bóng dáng trang phục diễm kiều cuả người gái quệ Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh ở trọ học, trở về thăm nhà gặp người con gái 16 tuổi - tên Vinh - yêu kiều trong chiếc váy bước vào hàng xén cuả thân mẫu Hoàng Cầm. Cậu bé 8 tuổi quá lãng mạn đã bị "tiếng sét ái tình" (coupđe-foudre) (amour subit & violent) ngay tức khắc. Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau Hoàng Cầm tâm sự: "Trước mắt tôi, Chị hiện ra rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi như bị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên cả đến học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số 1, xe xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần cuả tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ điù hiu, tỉnh nhỏ... Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng". Người con gái đó biết được mối tình si cuả cậu bé học trò. Thế nhưng "Chị vẫn dứt áo ra đị Đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu non cuối bể tôi đi tìm, không thấỵ Biền biệt tăm cá bóng chim...". Theo Hoàng Cầm, Lá Diêu Bông "là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một tình yêu đầy mộng mị thời thơ ấu". Chiếc lá ấy mang theo hình ảnh có thật với Hoàng Cầm: "Tôi còn nhớ mồn một một buổi chiều muà đông... Chị đi về phiá cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ Những dãy nuí xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẩn thờ tìm đồng chiềụ Cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng theo sau lưng : Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng...".

Mang hình ảnh đó những 25 năm sau, bài thơ Lá Diêu Bông cuả Hoàng Cầm mới ra đờị

"Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo:
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.
Muà đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời ... ới Diêu Bông!".

Bài thơ gọi chị & em vì vậy có nhiều người cứ nhầm tưởng hình ảnh hai chị em gái; thật ra, giữa tác giả với "người tình" nơi cố quận. Lá Diêu Bông ra đời từ năm 1959, bí ẩn đó kéo dài gần 4 thập niên, tác giả mới tâm sự nổi niềm.

Nhạc sĩ cảm tác, rung rộng với hồn thơ để sáng tác. Và, "thiên tình sử" Lá Diêu Bông được nhạc sĩ Phạm Duy viết thành ca khúc Lá Diêu Bông ở hải ngoại vào giữa thập niên 1980 trong tuyển tập "Thấm thoát mười năm" xuất bản năm 1985. Phạm Duy dùng nguyên văn bài thơ để viết nhạc, chỉ bỏ vài câu đầu từ "Váỵ.." đến "Chị bảo". "Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông... Diêu Bông hời, hời hỡi Diêu Bông" và thêm vào hai câu cuối vào bài hát: "Em đi trăm núi nghìn sông! Nào tìm thấy Lá Diêu Bông bao giờ...". Nhạc phẩm Lá Diêu Bông này mang âm hưởng sắc thái mới lạ, khó hát nên ít được phổ biến. Đầu thập niên 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ biến bài này mang âm điệu dân ca, bình dân được nhiều ca sĩ trình bày; vì vậy, đã có nhiều sự nhầm lẫn về tác giả khi nghe bài hát Lá Diêu Bông. Trần Tiến không hiểu được hồn cuả bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:

Trở lại hình ảnh Lá Diêu Bông với tơ lòng nhà thơ đắm say trong trường tình. Với hình ảnh người bạn đời Tuyết Khanh, Hoàng Yến; với cả mười người tình đi qua đời, qua trái tim; hình ảnh người con gái quê Đình Bảng vẫn là "đẹp nhất trần gian" ghê thật. Hoàng Cầm, nghệ sĩ sống thật với cõi lòng. Qua bao nhiêu đau thương, biến động dồn dập trong cuộc sống, Hoàng Cầm vẫn mang nặng tâm hồn nhgệ sĩ, chấp nhận tất cả mọi hệ lụy để sống còn và sáng tác. Trôi nổi giữa cuộc sống phong ba, bão táp, nhà thơ Sông Đuống có lẽ bị hai cú "shock" mạnh nhất là ngày chị Vinh đi lấy chồng lúc 12 tuổi và ngày Bùi Thị Hoàng Yến - đứa con thân yêu nhất - vĩnh viễn ra đi khi 63 tuổi đã làm Hoàng Cầm "hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau chỉ là cái xác vật vờ, lờ lững mà thôi"!. Đọc Lá Diêu Bông, nghe Lá Diêu Bông ... một mối tình đơn phương đầy lãng mạn, một huyền thoại về chiếc lá biểu tượng cho tình yêu chất ngất, rướm máu ... chỉ có Hoàng Cầm đam mê, nóng bỏng, lãng mạn cuả kiếp đời nghệ sĩ.

Nếu so sánh Hán Quang Võ đa tình, đa cảm... mẫn mê với thuở Lệ Quyên "thơm như hoa lan", giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm khúc...) và Dục Đức (Tự Đức) (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, luận ngữ Diễn cạ..) cách nhau một thế kỷ còn mập mờ tranh nhau hình ảnh Thị Bằng - "Đập cổ kính ra tìm bóng cũ. Xếp tàn y lại để dành hơi" - thì Lá Diêu Bông có lẽ tha thiết, nặng tình, bi thương hơn bội phần. Nếu so với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ. Một loại dược thảo, lá dài và nhỏ có tên là Hoàng Cầm; còn lá "Diêu Bông" được vẽ vời theo trí tưởng, theo hình ảnh nào đó đi vào trái tim. Lá Diêu Bông trữ tình, lãng mạn và cũng là định mệnh tình yêu với chân dung nghệ sĩ được tâm tình qua ngôn ngữ và âm thanh. Với "thiên tình sử" Lá Diêu Bông, với Hoàng Cầm, người nghệ sĩ bị chôn vùi tâm hồn lãng mạn qua thời gian lâu dài trong vùng đất ngục tù, cay đắng ... Nhưng vẫn giữ được trái tim rực lửa như thuở học trò với người gái quê Kinh Bắc.

Sưu tầm
Sự thật về một lá diêu bông

--- PA ---

Ra đời cách đây 30 năm, bài thơ "Lá diêu bông" được viết trên một cảm xúc ngưỡng vọng về một tình yêu đầu đời của tác giả với một thiếu nữ nhiều tuổi hơn. Với một mối tình không cách gì thực hiện được vì khoảng cách tuổi tác quá lớn; giống như Hàn Mặc Tử tự nhiên tìm ra cõi Phương trì trong giấc mơ, Hoàng Cầm đã hình tượng hoá cái mối tình đó bằng một cái lá không có thật trên đời là: Lá diêu bông. Bây giờ nếu hỏi tác giả vì sao anh lại đặt cho cái lá đó tên là diêu bông, Hoàng Cầm cũng chỉ biết cười và chào thua. Đấy là một trong những bí mật của sáng tạo, nhất là sáng tạo thi ca.

Bài thơ "Lá diêu bông" được ca sĩ Hữu Nội phổ nhạc khá sớm. Lúc đó, vì sinh nhai, gia đình Hoàng Cầm phải mở quán rượu, chàng ca sĩ thường xuyên có mặt ở không-gian-men đó. Và tự lúc nào không hay, bài "Lá diêu bông" được cảm xúc thành thực của Hữu Nội hát lên. Những ai ở Hà Nội đã từng biết Hoàng Cầm, đã từng uống rượu ở nhà Hoàng Cầm, chắc chắn đã từ lâu nghe bài hát. Nhờ nghe bài hát mà đã từ lâu, khá nhiều người Hà Nội đã thuộc bài thơ "Lá diêu bông".

Bằng một cách nào đó, bài hát "Lá diêu bông" của Hữu Nội phổ thơ Hoàng Cầm đã được truyền miệng ra nước ngoài. Và một nhạc sĩ xa xứ - bạn của Hoàng Cầm ngày đầu chống Pháp đã mang bài thơ đó phổ nhạc. Cũng bằng một cách nào đó, bài hát này đã tới tai Hoàng Cầm. Dù vậy Hoàng Cầm vẫn thích bản của Hữu Nội hơn.

Sau Hữu Nội, gần đây có nhạc sĩ Lê Yên và nhạc sĩ Lê Việt Hoà đã phổ bài thơ "Lá diêu bông". Mỗi người một cách khai thác và người nào cũng đạt tới một tinh thần nhất định của bài thơ.

Gần đây nhất, từ cuối năm 1989 đến nay xuất hiện một bài hát hay của Trần Tiến "Sao em nỡ vội lấy chồng", bên cạnh "trái mù u" trong câu ca dao Nam bộ, Trần Tiến đã dùng tên "Lá diêu bông" - tức là dùng đầu đề bài thơ của Hoàng Cầm. Vì thế, không thể gọi là bài "Sao em nỡ vội lấy chồng" nhạc: Trần Tiến; thơ: Hoàng Cầm hoặc nhạc Trần Tiến phỏng thơ Hoàng Cầm. Các cách gọi như thế đều không đúng. Nhưng trong thực tế, nó đã được giới thiệu như thế khá nhiều. Thậm chí nhiều người còn gọi ngay tên bài hát này của Trần Tiến là bài "Lá diêu bông". Xin được nhắc lại một cách nghiêm túc rằng Trần Tiến chỉ sử dụng tên "Lá diêu bông" cho bài hát của mình chứ không hề có ý định phổ nhạc bài thơ "Lá diêu bông" của Hoàng Cầm. Sự ngớ ngẩn của ai đó đã làm hại cả Trần Tiến lẫn Hoàng Cầm. Có những người chưa một lần nghe bài thơ "Lá diêu bông", sau khi nghe bài "Sao em nỡ vội lấy chồng" của Trần Tiến, bèn đến gặp Hoàng Cầm và tấm tắc khen bài thơ hay. Hoàng Cầm đã biết bao lần đỏ mặt và thanh minh rằng đó là cái từ của Trần Tiến, chứ đâu phải thơ Hoàng Cầm. Nhưng tuổi già sức yếu, nhà thơ lấy đâu ra năng lượng để giải toả cơn "nhiễu nguyên tác" này. Ngay cả Trần Tiến, anh cũng chẳng thích thú gì khi được dư luận đội cho cái "sa-pô" đó. Vì Trần Tiến là Trần Tiến, còn Hoàng Cầm là Hoàng Cầm. Chưa hề có cuộc giao duyên nào về cái "Lá diêu bông" giữa hai con người nầy cả .
Lá diêu bông


Lời ru buồn nghe mênh mang mênh mang
Sau lũy tre làng khiến lòng tôi xôn xao
Ngày lấy chồng em đi qua con đê
Con đê mọc lối cỏ về
Có chú bướm vàng bay theo em
Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gào sầu, vui bên anh

Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng

Ru em, thời thiếu nữ xa xôi
Mình tôi lang thang muôn nơi đi tìm lá cho em tôi
Ru em thời con gái hay quên
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Diêu bông hỡi, diêu bông
Sao em nỡ vội đi lấy chồng
Chân Quê

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


Nói ra sợ mất lòng em
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh


Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều .

(1936)

Hoa Với Rượu

Thấy rét u tôi bọc lại mền,
Cô hàng cất rượu ủ thêm men,
Mẹ cha mất sớm còn em nhỏ,
Say cả tư mùa cho khách quen .

Em nhỏ là Nhi, bạn nhỏ tôi,
Suốt ngày hai đứa nhẩn nha chơi .
Chị Nhi bán rượu đôi chiều chợ,
Vẫn nhớ mua quà cho cả đôi .

Hai đứa thường nhân buổi vắng nhà,
Người ta bắt chước chị người ta!
Ra vườn nhặt những hoa cam rụng,
Về bỏ đầy nồi cất nước hoa .

Nước hoa tuy chẳng thơm là mấy,
Hai đứa bôi đầy cả tóc nhau .
Hí hửng bảo nhau: "Thơm đấy chứ,
Nước hoa ngoài tỉnh thấm vào đâu!"

Một tối nhà Nhi có giỗ thầy,
Chị Nhi cho uống rượu cay cay,
Chừng đâu chén nhỏ làm hai đứa
Mặt đỏ lên rồi chếnh choáng say .

Hai đứa ôm nhau đánh giấc dài,
Bất đồ ngủ đến sáng ngày mai .
Chị Nhi cứ chế làm sao ấy,
Hai đứa nhìn nhau ngớ ngẩn cười .

Chị Nhi thường nói với u tôi:
"--Hai đứa, thưa bà, đến đẹp đôi!"
U tôi cười đáp ngay như thật:
--"Tôi có nàng dâu giúp đỡ rồi!"

Thưở ấy non sông thật thái bình,
Trai hiền bạn với gái đồng trinh .
Đời say men rượu thơm hoa rụng,
Tràn những thơ ngây, ngập cảm tình .

Ấy thế mà rồi cách biệt nhau,
Nhà Nhi không biết dọn đi đâu .
Mình tôi trời bắt làm thi sĩ,
Mẹ mất khi chưa kịp bạc đầu .

Bỏ lại vườn cam, bỏ mái tranh,
Tôi đi dan díu với kinh thành .
Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới,
Chuốc mãi men say rượu ái tình .

Rượu ái tình kia thành thuốc độc,
Vườn trần theo bướm phấn hương bay .
Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,
Hoa hết thơm rồi rượu hết say .

Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu,
Ba bốn năm rồi năm sáu năm .
Khóc vụng mỗi lần tôi nhớ lại,
Men nồng gạo nếp nước hoa cam .

Xa lắm rồi Nhi! Muộn lắm rồi,
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ,
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi .

Chắc ở nơi nào dưới mái tranh,
Chị em Nhi vẫn sốn yên lành .
Chị Nhi cất rượu cho Nhi bán,
Hồn vẫn trong và mộng vẫn trinh .

Ngày xưa con bé Nhi còn đẹp ,
Huống nữa giờ Nhi đã đến thì .
Tháng tháng mươi mười lăm buổi chợ,
Cho người thiên hạ phải say Nhi .

Xóm chị em Nhi ở mấy nhà ?
Bến đò dông vắng ? Chợ gần xa ?
Nhà Nhi thuê có vườn không nhỉ ?
Vườn có trồng cam có nở hoa ?

Mơ tưởng vu vơ lòng dối lòng,
Thực ra có phải thế này không .
Chị Nhi đã lấy chồng năm trước,
Nhi đến năm sau lại lấy chồng ?

Ước gì trên bước đường lưu lạc,
Một buổi chiều nào lộng gió mưa,
Gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ ,
Giật mình tôi thấy tiếng Nhi thưa .

Ngồi bên lò rượu đêm hôm đó,
Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu .
Nhắc lại ngày xưa mà thẹn lại ,
Ngậm ngùi hai đứa uống chung nhau .

Tôi kể: "U tôi đã mất rồi,
Cửa nhà còn có một mình tôi ..."
Nhi rằng: "Ngày trước u thường nói
Hai đứa mình trông đến đẹp đôi ..."

"Chị em mới lấy chồng năm trước,
Chồng chị trồng cam ở mé sông .
Em ở mình đây nhà trống trải,
Trăng vàng đầy ngõ gió mênh mông ..."

Như truyện Tương Như và Trác Thị
Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng **
Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng .
Ta với em Nhi kết vợ chồng .

Rượu cất kỳ ngon men ủ khéo,
Say người thiên hạ lại say nhau .
Chiều chiều hai đứa sang thăm chị ,
Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu .

Chao ôi! Là mộng hay là thực ?
Là thực hay là mộng bấy lâu ?
Hai đứa sống bằng hoa với rượu,
Sống vào trời đất, sống cho nhau .

Nhưng mộng mà thôi, mộng mất thôi,
Hoa thừa rượu ế, ấy tình tôi .
Xa rồi vườn cũ hoa cam rụng ,
Gặp lại nhau chi muộn lắm rồi .

(Huế 1941)


Lỡ Bước Sang Ngang

"Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa .
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ nay .
Rượu hồng em uống cho say,
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.
(Rồi đây sóng gió ngang sông,
Đầy thuyền hận,, chị lo không tới bờ)
Miếu thiêng vụng kén người thờ,
Nhà hương khói lạnh, chị nhờ cậy em.
Đêm nay là trắng ba đêm,
Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn.
Một vai gánh vác giang san...
Một vai nữa gánh muôn vàng nhớ thương.
Mắt quầng, tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì !
Một lần này bước ra đi
Là không hẹn một lần về nữa đâu,
Cách mấy mươi con sông sâu,
Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chênh vênh
Cũng là thôi\... cũng là đành...
Sang ngang lỡ buớc riêng mình chị sao ?
Tuổi son nhạt thắm phai đào,
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người !
Em đừng khóc nữa, em ơi !
Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em !
Một đi bảy nổi ba chìm,
Trăm cay nghìn đắng, con tim héo dần
Dù em thương chị mười phần,
Cũng không ngăn nỗi một lần chị đi ."


Chị tôi nước mắt đầm đìa,
Chào hai họ để đi về nhà ai\...
Mẹ trông theo, mẹ thở dài,
Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran.
Tôi ra đứng ở đầu làng
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa\.


II

Giời mưa ướt áo làm gì ?
Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng.
Người ta: pháo đỏ rượu hồng
Mà trên hồn chị: một vòng hoa tang .
Lần đầu chị bước sang ngang,
Tuổi son sông nước đò giang chưa tường.
Ở nhà em nhớ mẹ thương
Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ .
Mẹ ngồi bên cửi se tơ
Thời thường nhắc: "Chị mầy giờ ra sao ?"
"-- Chị bây giờ"... nói thế nào ?
Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.
Chị từ lỡ bước sang ngang
Trời dông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.
Xuôi dòng nước chảy liên miên,
Đưa thân thế chị tới miền đau thương,
Mười năm gối hận bên giường,
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.
Mười năm đưa đám một mình,
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên .
Mười năm lòng lạnh như tiền,
Tim đi hết máu, cái duyên không về.
"Nhưng em ơi một đêm hè,
Hoa soan nở, xác con ve hoàn hồn.
Dừng chân bên bến sông buồn,
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang .
Đoái thương, duyên chị lỡ làng.
Đoái thương phận chị dở dang những ngàỵ
Rồi ... rồi ... chị nói sao đây !
Em ơi, nói nhỏ câu này với em...
...Thế rồi máu trở về tim
Duyên làm lành chị duyên tìm về môi .
Chị nay lòng ấm lại rồi,
Mối tình chết, đã có người hồi sinh.
Chị từ dan díu với tình,
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng."

Tim ai khắc một chữ "nàng"
Mà tim chị một chữ "chàng" khắc theo .
Nhưng yêu chỉ để mà yêu,
Chị còn dám ước một điều gì hơn .
Một lần hai lỡ keo sơn,
Mong gì gắn lại phím đàn ngang cung .

Rồi đêm kia, lệ ròng ròng
Tiễn đưa người ấy sang sông chị về.

Tháng ngày qua cửa buồn the,
Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa .


III

Úp mặt vào hai bàn tay,
Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm .


"Đã đành máu trở về tim,
Nhưng không ngăn nỗi cánh chim giang hồ.
Người đi xây dựng cơ đồ...
Chị vềtrồng cỏ nấm mồ thanh xuân .
Người đi khoác áo phong trần,
Chị về may áo liệm dần nhớ thương .
Hồn trinh ôm chặt chân giường,
Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây .
Năm xưa đêm ấy giường này,
Nghiến răng... nhắm mắt... chau mày ... cực chưa !
Thế là tàn một giấc mơ,
Thế là cả một bài thơ não nùng !
Tuổi son má đỏ môi hồng,
Bước chân về đến nhà chồng là thôi !
Đêm qua mưa gió đầy giời,
Trong hồn chị, có một người đi qua ...

Em về thương lấy mẹ già,
Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công.
Chị giờ sống cũng như không
Coi như chị đã sang sông đắm đò."

Một Trời Quan Tái

Chiều lại buồn rồi, em vẫn xa,
Lá rừng thu đổ, trong nắng tà.
Chên vênh quán rượu mờ sương khói,
Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà.

Tôi đi mãi mãi vào sơn cước,
Em vuốt tua rèm cửa vọng lâu.
Lá úa kinh thành rơi ngập đất,
Lòng vàng hỏi vẫn nhớ thương nhau ?

Có những mâm cau phủ lụa điều,
Đi vào trong gió lạnh hiu hiu.
Những xe hoa cưới sao mà đẹp!
Cửa kính huy hoàng vạt áo thêu.

Em có buồn chăng, tôi vẫn xa,
Chiều nay say nhắp chén quan ha.
Bao giờ cau được tươi mau lụa ?
Được đón em bằngxe kết hoa ?

Thân em là liễu dạ em tơ,
Mềm yếu bền chăng với đợi chờ ?
Chua xót lòng tôi mơ ước mãi,
Áo bào nguyệt bạch ngựa kim ô!

Tôi lạnh đầu sông, giá ngọn nguồn,
Nhớ nhà thì ít, nhớ em luôn.
Chênh chênh bóng ngã sầu lau lách,
Chiều ngát hương rừng lối nhạt son.

Đã mấy năm rồi thương mến nhau,
Em còn thơ dại biết chi đâu!
Đến nay ba bảy mai đương độ,
Ai đánh em bằng giá ngọc châu?

Châu ngọc làm sao hái được nhiều,
Tôi là thi sĩ của thương yêu,
Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng ?
Với những mâm cau phủ lụa điều ?

Chiều nay .... thương nhớ nhất chiều nay,
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy.
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái, mấy cho say!

(Lạng Sơn 1940)


Lòng Mẹ

Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không !
Nín đi ! mặc áo ra chào họ
Rõ quí con tôi ! Các chị trông !

Ương ương dở dở quá đi thôi !
Cô có còn thương đến chúng tôi
Thì đứng lên nào ! lau nước mắt
Mình cô làm bận mấy mươi người.

Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương này lược này hoa tai
Muốn gì tôi sắm cho cô đủ
Nào đã thua ai đã kém ai ?

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái
Nuôi dạy em cô tôi đảm đương
Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả
Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương !

Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi !
Con ạ ! đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.


Tương Tư

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một ngườị
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi\...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho !
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

 

 

 

Thơ -Vườn Tao Đàn